Kỹ năng luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Thứ tư - 09/12/2015 21:42
Luận tội vừa là thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; đồng thời cũng là nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự.
Kiểm sát viên luận tội tại phiên tòa (Ảnh minh họa - phiên tòa tại TAND tỉnh thừa Thiên Huế)
Kiểm sát viên luận tội tại phiên tòa (Ảnh minh họa - phiên tòa tại TAND tỉnh thừa Thiên Huế)
Tuy Điều 217 BLTTHS quy định: Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

Bản luận tội có kết cấu gồm 3 phần:

Phần mở đầu: Nêu lý do của việc tòa án mở phiên tòa công khai xét xử đối với bị cáo.

Phần nội dung: Nêu tóm tắt hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện trong quá trình điều tra và kết quả công khai thẩm vấn tại phiên tòa, các tài liệu chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo như: Kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng, người bị hại, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; đánh giá tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả phạm tội do bị cáo gây ra, đánh giá các tình tiết định khung, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Phần kết luận: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm, khoản, điều nào của BLHS, mức hình phạt, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.

Để Bản luận tội đảm bảo chất lượng, đạt hiệu quả, sức thuyết phục cao thì cần phải đáp ứng các yêu cầu: Bảo đảm tính chính xác; bảo đảm tính đấu tranh và thuyết phục; tuyên truyền và giáo dục ý thức pháp luật; bảo vệ cáo trạng; kiểm tra đánh giá chứng cứ tại phiên tòa.

Về nội dung: Bản luận tội phải phân tích, đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện và đầy đủ; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm; hậu quả của tội phạm gây ra; thiệt hại vật chất, tinh thần; vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo; nhân thân bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nguyên nhân, điều kiện phạm tội; đề xuất điểm, khoản, điều BLHS áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại…

Luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Vì vậy, Điều 217 BLTTHS quy định: “Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội”. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày bản luận tội chứ không phải đọc bản luận tội đã chuẩn bị sẵn hoặc chỉ trình bày lời buộc tội mà không có sự phân tích, lập luận gì khác đối với vụ án. Dù có chuẩn bị viết dự thảo bản luận tội chi tiết đến mấy thì những lời buộc tội đó cũng chỉ căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì những tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải được thẩm tra, xác minh công khai tại phiên tòa mới có giá trị chứng minh. Cho nên, căn cứ kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên có thể có thêm nhiều tài liệu, chứng cứ mới có giá trị phủ định hoặc khẳng định kết quả điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, Kiểm sát viên phải kịp thời bổ sung cho phù hợp với diễn biến của phiên tòa, nếu cứ đọc nguyên văn bản dự thảo luận tội viết sẵn thì lời luận tội đó không phản ánh đúng bản chất vụ án. Khi trình bày luận tội, Kiểm sát viên phải trình bày rõ ràng, mạch lạc và đầy đủ ý nghĩa của từng câu, từng từ đúng theo cú pháp tiếng việt, tránh nói ngọng, nói lắp hoặc sai lỗi chính tả. Phải thể hiện sự tôn nghiêm của pháp luật, thông qua tư thế, tác phong, qua từng lời luận tội của Kiểm sát viên.

Kiểm sát viên luận tội tại phiên tòa phải đảm bảo: Phân tích, đánh giá chứng cứ nhằm chứng minh các yêu tố cấu thành tội phạm theo tội mà bị cáo đã bị truy tố và xét xử; khẳng định nội dung và quyết định truy tố ghi trong cáo trạng là đúng quy định của pháp luật, nếu có gì thay đổi như rút một phần quyết định truy tố… Việc đánh giá chứng cứ phải theo trình tự thời gian, theo từng vụ việc, từng bị cáo. Kiểm sát viên phải nêu nội dung lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, kết quả giám định, biên bản khám nghiệm… để bảo đảm tính có căn cứ của nội dung luận tội.

Quá trình luận tội phải phân tích, đánh giá được mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, vị trí, trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án. Phân tích những căn cứ thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội để kiến nghị phòng ngừa. Đề xuất quan điểm, đường lối xử lý vụ án trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, vị trí, trách nhiệm của từng bị cáo.

Để luận tội có chất lượng, đạt hiệu quả, Kiểm sát viên đề xuất quan điểm, đường lối xử lý vụ án cần phải lưu ý: Áp dụng đúng căn cứ pháp luật; đề nghị hình phạt chính trước, đối với vụ án có nhiều bị cáo thì đề nghị theo thứ tự như đã phân tích ở phần đánh giá vai trò, vị trí của từng bị cáo. Nếu các bị cáo đã và đang bị tạm giam thì phải khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam nếu áp dụng Điều 31, Điều 60 BLHS và áp dụng Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nếu bị cáo phạm nhiều tội thì Kiểm sát viên phải đề nghị mức hình phạt áp dụng cho từng tội, sau đó tổng hợp theo Điều 50 BLHS. Trong trường hợp bị cáo phải chấp hành nhiều bản án thì tổng hợp hình phạt theo Điều 51 BLHS. Nếu điều luật quy định có hình phạt bổ sung thì người phạm tội có thể áp dụng hình phạt bổ sung như quản chế, trục xuất, phạt tiền… nhưng điều luật quy định không mang tính bắt buộc nên tùy từng trường hợp mà quyết định.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với biện pháp tư pháp khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Kiểm sát viên áp dụng quy định tại các Điều 41, 42, 43 BLHS để đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

Liên quan đến giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự: Kiểm sát viên khi đề nghị bồi thường thiệt hại (đây là trường hợp đề nghị bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) phải căn cứ vào quy định tại các Điều 604 đến 612 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 03//2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự để bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Cuối cùng, Kiểm sát viên lưu ý với Hội đồng xét xử về tầm quan trọng của việc xét xử vụ án để Hội đồng xét xử có quyết định chính xác. Nếu có những thay đổi quyết định truy tố tại phiên tòa thì lưu ý Hội đồng xét xử quan tâm khi nghị án.

Luận tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nhằm làm cho bị cáo thấy được hành vi phạm tội của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân…; làm cho Hội đồng xét xử thấy được cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử ban hành một bản án thấu tình đạt lý, làm cho bị cáo tâm phục, khẩu phục. Qua lời luận tội, Kiểm sát viên tuyền truyền pháp luật đến bị cáo, những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa… để thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn và thống nhất.

 

Thanh Nghị

Nguồn tin: Kiểm sát Online

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây