Các nội dung cơ bản
1. Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến tội phạm
Một là, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 13 tội danh, tập trung vào các nhóm tội trật tự quản lý kinh tế; trật tự, an toàn công cộng... Việc mở rộng này nhằm xử lý sớm các hành vi tuy mới ở giai đoạn chuẩn bị nhưng đã bộc lộ rõ ý chí phạm tội, có tổ chức, có công cụ, phương tiện, mục tiêu cụ thể… nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả xảy ra.
Hai là, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 30 tội danh, tập trung vào các lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, đất đai, lao động, an toàn lao động... Việc mở rộng này xuất phát từ thực tiễn nhiều hành vi vi phạm được thực hiện thông qua doanh nghiệp, công ty “vỏ bọc”, pháp nhân trung gian hoặc hệ sinh thái nhiều pháp nhân nhằm che giấu dòng tiền, phân tán trách nhiệm, hợp pháp hóa lợi ích bất chính…
Ba là, bổ sung quy định về nhóm tội phạm có tổ chức và bổ sung tội thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức, nhằm tạo cơ sở pháp lý để phòng ngừa, xử lý sớm tội phạm, đồng thời nội luật hóa Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Bốn là, bổ sung 09 tội danh mới, tập trung vào các lĩnh vực: trật tự quản lý kinh tế, an ninh mạng, công nghệ cao, môi trường, an toàn công cộng, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt…; đồng thời bổ sung vào cấu thành của các tội danh hiện hành một số hành vi khách quan mới, đặc biệt là các tội danh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, lĩnh vực kinh tế, thương mại, lĩnh vực sở hữu trí tuệ... nhằm khắc phục các khoảng trống trong pháp luật hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm; đáp ứng các yêu cầu về hội nhập quốc tế, phục vụ công tác phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm trong tình hình mới.
Năm là, bỏ, gộp, tách một số tội danh để bảo đảm tinh gọn, thống nhất; bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự, phản ánh đúng bản chất, vai trò và mức độ nguy hiểm của từng nhóm hành vi.
2. Sửa đổi, bổ sung các quy định về hình phạt
Một là, thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với 06 tội, chỉ giữ lại hình phạt tử hình tại 04 tội gồm: phản bội Tổ quốc; giết người; khủng bố; sản xuất trái phép chất ma túy. Việc thu hẹp này thể chế hóa chủ trương của Đảng, phù hợp xu hướng lập pháp tiến bộ, nâng cao vị thế của Việt Nam trong hợp tác tư pháp hình sự, dẫn độ, tương trợ tư pháp.
Hai là, bỏ hình phạt cấm huy động vốn đối với pháp nhân thương mại phạm tội, vì hình phạt này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh toán, phục hồi, duy trì hoạt động, trả lương cho người lao động và thực hiện nghĩa vụ bồi thường của pháp nhân.
Ba là, cơ bản nâng gấp đôi mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền trong cấu thành định tội, định khung hình phạt tại các tội danh, phù hợp với biến động giá cả, tiền lương, thu nhập, GDP bình quân đầu người và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Bốn là, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với 18 tội danh về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, xâm phạm hoạt động tư pháp… phù hợp định hướng giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt không giam giữ. Đồng thời, dự thảo quy định người bị kết án trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ mà vi phạm nghĩa vụ thì có thể bị chuyển phần hình phạt còn lại thành hình phạt tù, nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành bản án và tính nghiêm minh của pháp luật.
Năm là, bổ sung tình tiết tăng nặng “người phạm tội bỏ trốn và có quyết định truy nã” và “phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân”; sửa đổi tình tiết giảm nhẹ theo hướng ghi nhận việc thành khẩn khai báo ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Dự thảo cũng mở rộng phạm vi áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện theo hướng bỏ điều kiện “phạm tội lần đầu”, “có nơi cư trú rõ ràng”.
Sáu là, bổ sung biện pháp tư pháp tịch thu, tiêu hủy dữ liệu số trái phép; buộc dừng hoạt động tên miền, địa chỉ IP, thu hồi khóa mật mã; khôi phục lại tình trạng ban đầu, đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm trên không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao.
3. Sửa đổi, bổ sung các quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Một là, mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng công nghệ mới, thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo; đồng thời mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng vũ trang.
Hai là, bổ sung quy định về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm gắn với điều kiện cụ thể. Trên cơ sở đó, dự thảo bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, đã khắc phục xong hậu quả và mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Dự thảo cũng quy định trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, nếu có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thì có thể miễn trách nhiệm hình sự, nhằm hạn chế phát sinh thủ tục tố tụng không cần thiết, bảo đảm chính sách nhân đạo, nhân văn.
4. Sửa đổi các quy định của Bộ luật để bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi và kỹ thuật lập pháp
Dự thảo bổ sung 01 điều về giải thích từ ngữ để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật; đồng thời, chỉnh lý thuật ngữ, dẫn chiếu để thống nhất với pháp luật chuyên ngành; bỏ một số quy định thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án hình sự; điều chỉnh lại bố cục của một số tội danh để bảo đảm thống nhất, phù hợp về kỹ thuật lập pháp.
Tin, ảnh: Phòng 1, Văn phòng
Thông báo kết quả thi vòng 2 kỳ thi tuyển công chức nghiệp vụ kiểm sát ngành Kiểm sát nhân dân năm 2025 và thủ tục phúc khảo
Thông báo triệu tập thí sinh dự kỳ thi tuyển công chức nghiệp vụ kiểm sát ngành KSND năm 2025
Kế hoạch tổ chức thi tuyển công chức nghiệp vụ kiểm sát ngành kiểm sát nhân dân năm 2025