NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Thứ ba - 22/09/2026 20:56 5 0

Dự thảo Bộ luật có nhiều nội dung mới và tiến bộ, dựa trên các nguyên tắc nền tảng của pháp luật hiện đại: công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả, nhân văn; trong đó, có những nội dung mới cơ bản sau đây:

1. Đổi mới thủ tục tố tụng theo hướng tinh gọn, hiệu quả

Nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp; bảo đảm giải quyết vụ việc, vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đúng pháp luật và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn; giảm thời gian, chi phí và nguồn lực cho hoạt động tố tụng; giảm khối lượng công việc cho các cơ quan tiến hành tố tụng; nâng cao hiệu quả giải quyết, giảm tình trạng tồn đọng vụ việc, vụ án; tăng tính linh hoạt của thủ tục tố tụng đối với từng loại vụ việc, vụ án, từng nhóm đối tượng và tính chất của hành vi, dự thảo Bộ luật quy định:

1.1. Chuẩn hóa quy trình tố tụng, tinh gọn trình tự và đơn giản hóa thủ tục hành chính tư pháp

a) Cải tiến, đơn giản hóa thủ tục cấp đăng ký người bào chữa theo hướng sửa cụm từ “xuất trình Thẻ luật sư” thành “có Thẻ luật sư”, thay “bản sao có chứng thực” thành “bản sao” tại Điều 82 dự thảo Bộ luật.

b) Lược bỏ một số thủ tục hành chính tư pháp để quy định trong văn bản hướng dẫn thi hành như thủ tục cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng (các điều 138, 139, 140, 141, 142 của Bộ luật hiện hành).

1.2. Hoàn thiện thủ tục rút gọn

a) Trên cơ sở bổ sung chế định về tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng, dự thảo Bộ luật mở rộng trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn theo hướng bổ sung việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt. Đồng thời, để bảo đảm rõ ràng, đã bố cục lại Chương XXXI về thủ tục rút gọn theo hướng tách riêng làm 03 mục gồm: (1) các quy định chung; (2) thủ tục rút gọn bắt buộc; (3) thủ tục rút gọn trong trường hợp bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt.

b) Bổ sung nguyên tắc áp dụng thủ tục rút gọn tại Điều 445 dự thảo Bộ luật theo hướng:

  • Việc áp dụng thủ tục rút gọn phải bảo đảm xác định đúng sự thật khách quan của vụ án; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người tham gia tố tụng.

  • Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thì phải bảo đảm: (1) bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn; (2) bị can, bị cáo phải được giải thích đầy đủ về quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của việc áp dụng thủ tục; (3) việc tự nguyện nhận tội phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; lời nhận tội không được coi là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có trách nhiệm chứng minh tội phạm theo quy định của Bộ luật này.

  • Trường hợp vụ án đang được giải quyết theo thủ tục rút gọn bắt buộc mà bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng thì cơ quan tiến hành tố tụng lập biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và áp dụng chính sách khoan hồng đối với bị can, bị cáo. Trường hợp không đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nhưng bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì cơ quan tiến hành tố tụng lập biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và xem xét áp dụng chính sách khoan hồng.

c) Sửa đổi, bổ sung điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn tại Điều 447 và Điều 457 dự thảo Bộ luật:

  • Đối với áp dụng thủ tục rút gọn bắt buộc: (1) bổ sung các trường hợp được áp dụng thủ tục rút gọn, gồm: người phạm tội đầu thú; tội phạm đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng; (2) bỏ điều kiện “người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 456 Bộ luật hiện hành; (3) sửa đổi điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử phúc thẩm theo hướng chỉ quy định điều kiện: vụ án chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo, giảm trách nhiệm dân sự.

  • Bổ sung thủ tục rút gọn khi bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt khi có đủ các điều kiện sau: (1) bị can, bị cáo tự nguyện thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh, chứng cứ và các tình tiết khách quan của vụ án, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp được cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị áp dụng để được hưởng khoan hồng theo quy định của Bộ luật này và Bộ luật Hình sự; (2) trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại thì bị can, bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc có cam kết và biện pháp cụ thể để tiếp tục khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; (3) có biên bản ghi nhận việc bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp và đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn. Việc lập biên bản có sự tham gia của người bào chữa theo quy định của Bộ luật này; trường hợp không có người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng mời người chứng kiến; (4) có đủ chứng cứ để kết luận về hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và căn cứ kết tội; việc nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.

d) Bổ sung chủ thể có thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn tại khoản 2 Điều 49 dự thảo Bộ luật, cụ thể: bổ sung Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn.

đ) Bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục khi áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt tại Mục 3 Chương XXXI của dự thảo Bộ luật.

e) Để bảo đảm việc giải quyết vụ án được thực hiện nhanh chóng, bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, khoản 2 Điều 454, khoản 2 Điều 465, khoản 2 Điều 456 dự thảo Bộ luật bổ sung quy định rõ: (1) việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa tập trung vào những chứng cứ, tình tiết của vụ án còn có ý kiến khác nhau hoặc cần được làm rõ; (2) tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa tập trung vào nội dung kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán quyết định và tuyên án ngay tại phiên tòa.

g) Quy định rõ nội dung của: (1) Kết luận điều tra, trong đó, khoản 1 Điều 458 dự thảo Bộ luật bổ sung nội dung của Kết luận điều tra trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là phải nêu rõ nội dung bị can tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và kết quả thực hiện cam kết để được hưởng khoan hồng; (2) quyết định truy tố, trong đó, khoản 1 Điều 458 dự thảo Bộ luật bổ sung nội dung của quyết định truy tố khi rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là phải nêu rõ nội dung bị can tự nguyện nhận tội, đề nghị hình phạt áp dụng và đề nghị Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn; (3) bản án; trong đó, khoản 1 Điều 465 dự thảo Bộ luật bổ sung nội dung của bản án khi rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt là phải nêu rõ ý kiến của bị cáo, người bào chữa về việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt; nhận định của Thẩm phán về việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt của bị cáo, tính hợp pháp, khách quan của biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt; quyết định của Thẩm phán về tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, mức hình phạt được áp dụng với bị cáo, án phí và các vấn đề khác.

2. Đổi mới thủ tục tố tụng bảo đảm phân hóa và khoan hồng trong xử lý tội phạm

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực, mở đường cho phát triển kinh tế; tạo động lực, cơ hội để người phạm tội đầu thú, tự thú, thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan tố tụng; chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả; bảo đảm nghiêm minh, nhân văn, thuyết phục; góp phần rút ngắn quy trình tố tụng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án, bảo đảm xử lý tội phạm nhanh chóng, hiệu quả; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản; giảm xử lý hình sự, giảm số vụ án phải giải quyết theo thủ tục thông thường, góp phần giảm tải áp lực cho các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giảm chi phí, nguồn lực tố tụng; tăng tính công khai, minh bạch trong giải quyết vụ việc, vụ án, xử lý tội phạm, dự thảo Bộ luật quy định:

2.1. Hoàn thiện hệ thống nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự

  • Bổ sung làm rõ hơn về nguyên tắc “Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án” quy định tại Điều 21 dự thảo Bộ luật theo hướng bổ sung quy định để xử lý có lợi cho người bị buộc tội trong trường hợp khởi tố vụ án, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và giải thích, áp dụng pháp luật theo quy định mà vẫn chưa rõ căn cứ định tội danh, áp dụng tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, xác định hậu quả của tội phạm hoặc các vấn đề khác làm căn cứ quyết định trách nhiệm hình sự.

  • Bổ sung nguyên tắc “Bảo đảm phân hóa thủ tục tố tụng hình sự và thực hiện chính sách khoan hồng” tại Điều 22 dự thảo Bộ luật theo hướng cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vai trò, nhân thân, thái độ khai báo, mức độ hợp tác, việc khắc phục hậu quả của người phạm tội và các căn cứ khác theo quy định của pháp luật để áp dụng thủ tục tố tụng phù hợp đối với từng trường hợp cụ thể theo quy định của Bộ luật này, bảo đảm giải quyết vụ việc, vụ án kịp thời, công bằng, đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trường hợp người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, khắc phục hậu quả thì được xem xét áp dụng thủ tục rút gọn và được hưởng khoan hồng theo quy định của pháp luật; đồng thời, thiết kế các thủ tục tương ứng để phân hóa, xử lý trong từng trường hợp như miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, thủ tục rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt...

2.2. Bổ sung trình tự, thủ tục để mở rộng phạm vi không khởi tố, phạm vi miễn trách nhiệm hình sự

Bổ sung quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét không khởi tố hoặc miễn trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn như sau:

a) Đề xuất bổ sung 01 khoản (khoản 4) tại Điều 29 Bộ luật Hình sự trường hợp miễn trách nhiệm hình sự để phù hợp với các chủ trương, chỉ đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

b) Điều 162 dự thảo Bộ luật đã bổ sung 05 tội của Bộ luật Hình sự chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại, gồm: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (khoản 1 Điều 175), Tội chiếm giữ trái phép tài sản (khoản 1 Điều 176), Tội sử dụng trái phép tài sản (khoản 1 Điều 177), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (khoản 1 Điều 178), Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180).

Việc mở rộng phạm vi khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với các tội danh nêu trên phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; góp phần khuyến khích người phạm tội chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả, tăng cường hòa giải, giảm xung đột xã hội, đồng thời vẫn bảo đảm quyền của Nhà nước trong việc xử lý tội phạm khi cần thiết theo quy định của pháp luật.

c) Bổ sung trình tự, thủ tục để mở rộng các trường hợp không khởi tố tại Điều 164 dự thảo Bộ luật khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự.

2.3. Bổ sung thủ tục trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

Bổ sung thủ tục trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự tại Chương IX dự thảo Bộ luật để bảo đảm đồng bộ với dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), theo đó:

a) Bổ sung quy định về việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể xem xét, quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27a của Bộ luật Hình sự (chỉ áp dụng đối với người phạm tội quy định tại chương các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế);

b) Quy định về điều kiện tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: (1) người được xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự có đơn đề nghị; (2) tự nguyện thừa nhận trách nhiệm đối với hành vi, hậu quả xảy ra; cam kết hợp tác với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (3) có phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục khác kèm theo các tài liệu chứng minh khả năng thực hiện được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chấp thuận; (4) có cam kết bảo đảm thực hiện của tổ chức, cá nhân có liên quan, nếu có. Đồng thời, quy định giao Viện trưởng VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết nội dung này.

c) Quy định rõ khi tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.

d) Quy định rõ trong thời hạn tạm đình chỉ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo dõi, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện cam kết để quyết định: (1) miễn trách nhiệm hình sự nếu đã khắc phục đầy đủ hậu quả và đáp ứng điều kiện luật định; (2) phục hồi giải quyết vụ việc, vụ án nếu thực hiện không đầy đủ cam kết hoặc không đáp ứng điều kiện miễn trách nhiệm hình sự; (3) trường hợp vi phạm cam kết, bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn, cản trở việc giải quyết vụ việc, vụ án thì hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, thái độ hợp tác và hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được ghi nhận làm căn cứ xem xét áp dụng chính sách khoan hồng.

đ) Quy định thẩm quyền, thủ tục quyết định việc tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự ở từng giai đoạn tố tụng; nội dung của quyết định tạm đình chỉ; quyền khiếu nại của người tham gia tố tụng và giao cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn chi tiết việc thi hành.

e) Quy định thời hạn tạm đình chỉ trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự (chỉ được áp dụng một lần đối với một vụ việc, vụ án và thời hạn không quá 02 năm kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, cơ quan đã ra quyết định tạm đình chỉ có thể quyết định gia hạn một lần không quá 01 năm); trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện phương án, cam kết trong thời gian tạm đình chỉ và việc xác định thời hạn tố tụng, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hoàn thiện chế định thẩm quyền tố tụng; tăng cường kiểm soát quyền lực; bảo đảm tốt hơn quyền con người

Trên cơ sở tiếp tục kế thừa các quy định hiện hành còn phù hợp, đang phát huy hiệu quả về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ và cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đồng thời, quy định rõ hơn, bảo đảm phân định rành mạch về thẩm quyền giữa các cấp tố tụng và đẩy mạnh phân quyền cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; đồng thời bảo đảm sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, tăng cường trách nhiệm của các chủ thể và bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới của cơ quan tiến hành tố tụng; hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các cơ chế giám sát của cơ quan, tổ chức và Nhân dân đối với hoạt động tố tụng; tăng cường bảo đảm quyền con người, nhất là quyền bào chữa của người bị buộc tội trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án, dự thảo Bộ luật quy định:

3.1. Hoàn thiện quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng

a) Hoàn thiện quy định về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng:

  • Đối với Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: sửa đổi quy định về hệ thống, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các Cơ quan điều tra để bảo đảm đồng bộ với Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi);

  • Đối với Viện kiểm sát, Tòa án về cơ bản giữ nguyên như hiện hành.

b) Hoàn thiện quy định về phân định thẩm quyền của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng với những người trực tiếp tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán).

Tăng thẩm quyền, tăng trách nhiệm cho các chức danh tố tụng để chủ động trong thực thi nhiệm vụ tại các điều 41, 46 và 49 dự thảo Bộ luật theo hướng:

  • Bổ sung cho Điều tra viên thẩm quyền quyết định thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài sản; tiến hành nhận biết giọng nói; quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá; ban hành các thông báo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này.

Bổ sung cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công thẩm quyền tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội rất nghiêm trọng nhưng tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng xảy ra trên địa bàn cấp xã.

  • Bổ sung quy định đầy đủ về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để bảo đảm thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, như: lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ; trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường; đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói; xử lý vật chứng; quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định...

  • Bổ sung cho Kiểm sát viên thẩm quyền quyết định thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng trong một số trường hợp; quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá; ban hành các thông báo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.

  • Bổ sung cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thẩm quyền quyết định xử lý vật chứng trong một số trường hợp; quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

c) Thể chế hóa chủ trương của Đảng theo Quy định số 183-QĐ/TW, dự thảo Bộ luật bổ sung nguyên tắc “Bảo vệ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”, tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Theo đó, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được áp dụng các biện pháp bảo vệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp trái pháp luật, tác động, gây áp lực, đe dọa, trả thù, trù dập hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Đồng thời, để cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại Chương XXXIV dự thảo Bộ luật đã bổ sung các quy định cụ thể về việc bảo vệ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3.2. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo hướng:

a) Sửa đổi quy định về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 116 dự thảo Bộ luật để bảo đảm thống nhất với Bộ luật Hình sự về các trường hợp chuẩn bị phạm tội; sửa đổi quy định về việc khi thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì không cần phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng kiến;

b) Nhằm hạn chế tạm giam, tại Điều 125 dự thảo Bộ luật sửa đổi các nội dung: mở rộng các trường hợp không bị áp dụng biện pháp tạm giam theo hướng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm thì chỉ bị tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã (theo Bộ luật hiện hành thì họ bị áp dụng biện pháp tạm giam nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 119);

Tại Điều 129 dự thảo Bộ luật đã bổ sung biện pháp ngăn chặn giám sát điện tử thay thế biện pháp tạm giam, trong đó quy định đầy đủ về căn cứ, thẩm quyền, thời hạn, trình tự áp dụng, thay thế, hủy bỏ nhằm bảo đảm chặt chẽ, không làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân; đồng thời, bổ sung quy định về việc giao Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành biện pháp này.

c) Tại Điều 132 dự thảo Bộ luật bổ sung trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;

d) Tại Điều 137 dự thảo Bộ luật bổ sung biện pháp “tiền” cưỡng chế tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, trước khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, trong đó quy định cụ thể về điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn áp dụng; đồng thời giao Viện trưởng VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết nội dung này.

3.3. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về thủ tục bào chữa, tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người tham gia tố tụng theo hướng:

a) Bổ sung trường hợp chỉ định người bào chữa tại Điều 80 dự thảo Bộ luật gồm: bị can, bị cáo là người chưa thành niên và bị can, bị cáo thuộc trường hợp áp dụng thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt. Đồng thời bổ sung quy định đối với trường hợp nêu trên thì không được quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa chỉ định.

b) Bổ sung tại Điều 87 dự thảo Bộ luật quy định về thời điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự được tham gia tố tụng; đồng thời bổ sung tại Điều 89 dự thảo Bộ luật thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự.

4. Đổi mới phương thức hoạt động tố tụng hình sự theo hướng thực hiện tố tụng điện tử

Nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hoạt động tố tụng; rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc, vụ án; giảm chi phí và nguồn lực xã hội; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và dữ liệu số trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ bí mật đời tư cá nhân, dự thảo Bộ luật quy định:

a) Bổ sung tại Điều 4 dự thảo Bộ luật khái niệm về “tố tụng điện tử” theo hướng: Tố tụng điện tử là phương thức tổ chức và thực hiện hoạt động tố tụng trên môi trường số, trong đó hồ sơ vụ việc, vụ án, tài liệu, dữ liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng và các hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được tạo lập, thu thập, trao đổi, quản lý, lưu trữ, sử dụng và thực hiện bằng phương tiện điện tử, theo quy định của Bộ luật này và quy định của pháp luật có liên quan.

b) Bổ sung tại Điều 18 dự thảo Bộ luật nguyên tắc quy định về “Hoạt động tố tụng điện tử” theo hướng: (1) cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện hoạt động tố tụng điện tử trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; (2) hoạt động tố tụng điện tử có giá trị pháp lý. Việc thực hiện hoạt động tố tụng điện tử phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm tính hợp pháp, xác thực, toàn vẹn, khả năng truy xuất, bảo mật, an ninh dữ liệu và không làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; (3) văn bản tố tụng, biên bản, tài liệu khác liên quan đến vụ việc, vụ án được lập bằng phương thức điện tử phải được chuyển ngay trên hệ thống quản lý án hình sự theo quy định của Bộ luật này.

c) Nhằm bảo đảm kiểm sát kịp thời việc lập hồ sơ vụ việc, vụ án và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, khoản 5 Điều 93 dự thảo Bộ luật sửa đổi theo hướng trường hợp hoạt động kiểm tra, xác minh, điều tra, thu thập, nhận tài liệu liên quan đến vụ việc, vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện bằng phương thức điện tử thì chuyển ngay trên hệ thống quản lý án hình sự; trường hợp không thực hiện bằng phương thức điện tử thì cơ bản giữ thời hạn, trình tự như quy định hiện hành.

d) Nhằm tạo cơ sở pháp lý xác định nghĩa vụ hợp tác của các tổ chức cung cấp dịch vụ xuyên biên giới và các tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam trong việc cung cấp dữ liệu điện tử phục vụ hoạt động tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong môi trường số, tại Điều 113 dự thảo Bộ luật bổ sung quy định khi nhận được yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì tổ chức cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, mạng xã hội, điện toán đám mây, dịch vụ lưu trữ dữ liệu, nền tảng số hoặc dịch vụ trực tuyến khác và tổ chức, cá nhân khác tại Việt Nam có trách nhiệm thực hiện trong thời hạn yêu cầu; trường hợp khẩn cấp phải thực hiện ngay theo quy định của pháp luật. Giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết về thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử.

đ) Nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho tố tụng điện tử, Điều 140 dự thảo Bộ luật đã bổ sung quy định văn bản tố tụng có thể được lập dưới dạng điện tử hoặc giấy, chữ ký và dấu của cơ quan ban hành được thực hiện trực tiếp hoặc bằng phương thức điện tử.

e) Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc lập, ký và quản lý biên bản điện tử, bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn và minh bạch trong tố tụng hình sự, Điều 141 dự thảo Bộ luật đã bổ sung theo hướng quy định biên bản tố tụng được lập bằng phương thức điện tử hoặc văn bản giấy, chữ ký có thể thực hiện trực tiếp hoặc xác nhận bằng phương thức điện tử; đồng thời quy định đối với biên bản điện tử, việc sửa chữa phải bảo đảm xác định được nội dung trước và sau khi sửa.

g) Quy định cụ thể về việc “số hóa” hồ sơ vụ án tại Điều 139 dự thảo Bộ luật, theo đó, hồ sơ vụ việc, vụ án được lập, quản lý và lưu trữ dưới dạng điện tử. Trường hợp tài liệu được lập bằng văn bản giấy phải được số hóa để đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử theo quy định. Hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử có mã quản lý duy nhất và được chia sẻ liên thông trên hệ thống quản lý án hình sự giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định. Đối với hoạt động tố tụng, tài liệu, vật chứng, tài sản hoặc đối tượng khác không thể thực hiện bằng phương thức điện tử thì thông tin về việc tạo lập, thu thập, quản lý, chuyển giao và xử lý phải được ghi nhận trong hồ sơ vụ việc, vụ án điện tử.

h) Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển giao văn bản tố tụng trên môi trường điện tử, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, Điều 145 dự thảo Bộ luật đã bổ sung phương thức cấp, giao, chuyển văn bản tố tụng bằng phương thức điện tử và giao liên ngành quy định chi tiết việc thực hiện quy định này.

i) Nhằm đáp ứng yêu cầu phân cấp, chuyển đổi số và nâng cao tính kịp thời, hiệu quả trong quản lý, giải quyết và kiểm sát nguồn tin về tội phạm, Điều 153 dự thảo Bộ luật đã bổ sung quy định về việc cấp mã số để quản lý, theo dõi nguồn tin về tội phạm; đồng thời cho phép Viện kiểm sát truy cập, khai thác dữ liệu trên hệ thống quản lý án hình sự để thực hiện kiểm sát.

k) Quy định rõ về khái niệm và việc tổ chức phiên tòa trực tuyến tại Điều 4 và Điều 258 dự thảo Bộ luật trên cơ sở luật hóa Nghị quyết số 33/2021/QH15 của Quốc hội về phiên tòa trực tuyến.

5. Đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trên cơ sở rà soát, đánh giá tính thống nhất, đồng bộ của Phần thứ tám về hợp tác quốc tế với các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, đặc biệt là Luật Tương trợ tư pháp về hình sự và Luật Dẫn độ, dự thảo Bộ luật sửa đổi căn cứ xem xét, xử lý yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo hướng việc xem xét được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự.

6. Luật hóa các chế định đã triển khai thí điểm; sửa đổi, bổ sung thủ tục tố tụng hình sự để khắc phục vướng mắc, bất cập qua tổng kết thực tiễn

Dự thảo Bộ luật sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm luật hóa Nghị quyết số 164/2024/QH15 ngày 28/11/2024 của Quốc hội thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự; khắc phục vướng mắc, bất cập qua tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2015, cụ thể:

  • Bổ sung quy định về xử lý sớm vật chứng, tài sản trên cơ sở luật hóa Nghị quyết số 164/2024/QH15, trong đó quy định cụ thể về nguyên tắc thực hiện, các biện pháp xử lý sớm, điều kiện áp dụng, quy định giao Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nội dung này. Đồng thời, mở rộng việc xử lý đối với vật chứng thuộc loại giảm giá trị nhanh, chi phí bảo quản lớn; quy định rõ hơn về việc xử lý vật chứng thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản, giảm giá trị nhanh, chi phí bảo quản lớn thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không còn giá trị sử dụng thì tiêu hủy; trường hợp không bán được thì giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

  • Sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các nội dung/chế định khác như: quy định về tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt,…

 

 

Tin, ảnh: Phòng 2, Văn phòng

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây